JV color JV color JV color
Thứ ba, 02 Tháng 9 2014

 

Tìm kiếm thông tin

Hình ảnh

Thăm dò ý kiến

Theo bạn các dịch vụ Bệnh viện Đa khoa Ninh Hòa cung cấp?
 

Thống kê

Hiện có 3 khách Trực tuyến
Home Nghiên cứu khoa học Đề tài NCKH - Sáng kiến cái tiến Nghiên cứu Chất lượng cuộc sống

Nghiên cứu Chất lượng cuộc sống

Trong đời sống thường ngày, công việc hối hả cuốn con người bộn bề làm cho nhiều người mắc phải các bệnh như bệnh đau lưng, hoặc có trường hợp bị thoái hóa đốt sống cổ và căn bệnh thoái hóa cột sống. Hãy tham khảo thoaihoacotsong.vn để có những lời khuyên đích thực tới bạn!

NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

CỦA BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT VÙNG BỤNG

TẠI HUYỆN NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA.

CAO KHẢ ANH

 

 

TÓM TẮT:

Tác giả nghiên cứu chất lượng cuộc sống của 342 bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong thời gian từ năm 2005-2007 với mục tiêu

1. Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
vùng bụng.

2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng.

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai thời điểm tháng 7 năm 2010 và tháng 4 năm 2011. Tác giả sử dụng dụng cụ điều tra là Bảng câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống liên quan đến tiêu hóa gan mật (Gastrointestinal Quality of Life Index – GIQLI) gồm 36 câu hỏi , mỗi câu trả lời được cho theo 5 thang điểm, điểm từ 0 đến 4 với phương thức phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân. Số liệu thu được sẽ được mã hóa và dùng phần mềm SPSS 11.5 để xử lý .

KẾT LUẬN:

1.Chất lượng cuộc sống.

-Bảng câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống tiêu hoá gan mật có độ tin cậy cao được xác định bởi  hệ số Cronbach ‘ alpha = 0,91.

-Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng qua hai lần điều tra cách nhau 7 tháng cho thấy chất lượng cuộc sống về sau càng được cải thiện hơn (124,46 ± 14,39  và  125,06 ± 14,10), sự cải thiện về chất lượng cuộc sống  có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).

Phẫu thuật nội soi làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được cải thiện tốt hơn là phẫu thuật cổ điển. Bệnh nhân cùng được thực hiện một loại phẫu thuật thì chất lượng cuộc sống không có liên quan đến phẫu thuật đó.

2.Các yếu tố liên quan.

-Tuổi., nghề nghiệp, kinh tế gia đình làm thay đổi chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê.

-Giới tính ,nơi cư trú, dân tộc, trình độ học vấn , môi trường gia đình không có mối liên quan với chất lượng cuộc sống.

-Phương pháp phẫu thuật không có mối liên quan với chất lượng cuộc sống, ngoại trừ những bệnh nhân được phẫu thuật nội soi có chất lượng cuộc sống tốt hơn những bệnh nhân được phẫu thuật cổ điển.

-Các biến chứng hay gặp như tắc ruột sau mổ, loét tái phát không có mối liên quan với chất lượng cuộc sống.

TỪ KHÓA: chất lượng cuộc sống, phẫu thuật vùng bụng.

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chất lượng cuộc sống đã trở nên một dụng cụ đo lường quan trọng ở bệnh nhân phẫu thuật. Sự hữu ích của chất lượng cuộc sống được xem là một trong những kiểm tra cuối cùng về mặt lâm sàng đã được ngày càng công nhận nhiều hơn [17],[20].

Đánh gía chất lượng cuộc sống được thực hiện nhờ nhiều công cụ và thang điểm khác nhau như: Visick,  chỉ số Spitzer, chỉ số Short Form (SF) – 36, chỉ số chất lượng cuộc sống các bệnh lý tiêu hóa (GastroIntestinal Quality of Life Index) [4],[5],[6],[16],[21],[22],[27].

Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài, các tác giả đều sử dụng chỉ số chất lượng cuộc sống các bệnh lý tiêu hoá để đánh giá chất lượng cuộc sống như: M.Kplan [24]. M. Planells Roig, [25]. Mentes BB, [26].

Một số biến chứng sau phẫu thuật làm ảnh hưởng đến cuộc sống và khả năng lao động của người bệnh, nhiều bệnh nhân mổ đi mổ lại nhiều lần và có khả năng tử vong trong đó biến chứng hay gặp nhất là tắc ruột sau mổ, loét tái phát, tổn thương đường mật, nhiễm trùng sau cắt lách [1], [2], [3], [7], [8], [11], [12].

Tại Bệnh viện Đa Khoa Ninh Hòa, hàng năm có từ 1.500 - 1.700 trường hợp phẫu thuật trong đó phẫu thuật bụng chiếm 1/3 tổng số các trường hợp, giúp trả người dân về hòa nhập với cộng đồng, phát triển kinh tế. Tuy nhiên các biến chứng sau phẫu thuật cũng không không kém phần quan trọng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân khi về hòa nhập với cộng đồng.

Vì vậy vấn đề nghiên cứu đặt ra:

- Chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật của bệnh nhân hiện nay như thế nào về mặt tinh thần và sức khỏe?

- Các biến chứng sau phẫu thuật và những can thiệp về y tế có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân không?

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng tại huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa”, nhằm mục tiêu:

1. Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
vùng bụng.

2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân được điều trị phẫu thuật ổ bụng tại Bệnh viện Đa Khoa Ninh Hòa từ năm 2005-2007, bao gồm phẫu thuật Viêm ruột thừa ,gan mật ,lách, tụy, dạ dày, tá tràng, ruột non, đại tràng, ở những bệnh nhân trên 15 tuổi.

2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang với cở mẫu 342 bệnh nhân .

Thu thập thông tin trực tiếp qua công cụ là bảng câu hỏi phỏng vấn (bảng dịch từ tiếng Pháp của tác giả Bùi Đức Phú)

  • Công cụ phỏng vấn là bảng câu hỏi: dựa vào Bảng câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống liên quan đến tiêu hóa gan mật (Gastrointestinal Quality of Life Index – GIQLI) gồm 36 câu hỏi (đính kèm), mỗi câu trả lời được cho theo 5 thang điểm, điểm từ 0 đến 4. Tổng số điểm càng cao thì chất lượng cuộc sống càng tốt và ngược lại.
  • Đánh giá như sau:

Đạt 1/5 điểm (< 29 điểm)            :           Chất lượng cuộc sống rất kém

Đạt 2/5 điểm (29 – 57 điểm         :           Chất lượng cuộc sống trung bình

Đạt 3/5 điểm (58 – 86 điểm)        :           Chất lượng cuộc sống khá

Đạt 4/5 điểm (87 – 115 điểm)      :           Chất lượng cuộc sống tốt

Đạt 5/5 điểm (116 – 144 điểm)    :           Chất lượng cuộc sống rất tốt

Tổ chức thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân được tiến hành 2 lần:

- Lần 1 vào tháng 7 năm 2010

- Lần 2 vào tháng 4 năm 2011.

Xử lý số liệu bằng phần  mềm SPSS 11.5 Đánh giá độ tin cậy của Bảng câu hỏi GIQLI dùng hệ số Cronbach’s α  .Sử dụng toán học để xem xét ý nghĩa thống kê của các mối liên quan .

 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1.ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

1.1.Đánh giá độ tin cậy theo hệ số Cronbach’alpha

Phần lớn tác giả trên thế giới đều thống nhất là sau phẫu thuật bụng, Bảng 36 câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống liên quan đến tiêu hóa gan mật được phát triển bởi Eypasch và cộng sự ở nước Đức là phù hợp nhất [16]. Các tác giả như E.Eypasch , Võ Thị Xuân Hạnh [27],Le Page S [23], Heng Hui Lien [19], Gabriel Sandblom [18] đều đồng ý sử dụng hệ số Cronbach ‘ alpha  để kiểm định độ tin cậy của các mục câu hỏi trong nghiên cứu.

Bảng 1. Đánh giá độ tin cậy theo hệ số Cronbach’alpha

Lần điều tra thứ nhất

Lần điều tra thứ hai

0,91

0,91

Độ tin cậy trong Bảng câu hỏi điều tra của chúng tôi trong hai lần điều tra đều cho thấy hệ số Cronbach ‘alpha đều đạt trên 0,91 như vậy hệ số này đạt >0,8 theo qui ước và như vậy Bảng câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật ổ bụng ở bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có độ tin cậy cao,.

1.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống

Bảng 2. Chất lượng cuộc sống qua hai lần điều tra

Chất lượng cuộc sống

Tốt

Rất tốt

p

n

%

n

%

<0,05

Điều tra lần 1

133

38,9

209

61,1

Điều tra lần 2

118

34,5

224

65,5

Giá trị trung bình của chất lượng cuộc sống trong lần điều tra thứ nhất là 124,46 ± 14,39 và trong lần điều tra thứ hai có sự cải thiện rõ rệt 125,06 ± 14,10, sự khác biệt này có ý nghĩa  thống kê với p < 0,05. Chất lượng cuộc sống càng về sau càng được cải thiện, điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của M.Kplan [24].Nghiên cứu của M. Planells Roig và cộng [25].Nghiên cứu của Mentes BB [26].

2. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

2.1. Giới tính

Bảng 3. Liên quan Chất lượng cuộc sống và giới tính

Giới tính

Chất lượng cuộc sống điều tra lần I,II

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1>0,05

 

p2>0,05

 

Nam

17,3

15,9

31,9

33,3

49,2

49,2

Nữ

21,6

18,6

29,2

32,2

50,8

50,8

Tổng số

38,9

34,5

61,1

65,5

100,0

100,0

Khi đánh giá mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với giới tính qua 2 lần điều tra cho thấy chất lượng cuộc sống càng về sau càng cải thiện hơn và chất lượng cuộc sống rất tốt được cải thiện hơn so với chất lượng cuộc sống tốt ở cả hai phái nam và nữ, nhưng khi kiểm định chúng tôi thấy không có mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với giới tính (p>0,05).

Chất lượng cuộc sống giữa hai phái nam và nữ có những thay đổi nhất định của họ.

2.2. Tuổi

Bảng 4. Liên quan Chất lượng cuộc sống và nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1<0,05

 

 

p2<0,05

 

15-24

2,6

2,0

17,8

18,4

20,4

20,4

25-34

4,4

4,4

12,6

12,6

17,0

17,0

35-44

5,8

5,0

16,7

17,5

22,5

22,5

45-54

5,6

4,7

11,1

12,0

16,7

16,7

55-64

6,4

5,3

2,9

4,0

9,3

9,3

65-74

8,5

7,6

0,0

0,9

8,5

8,5

>74

5,6

5,6

0,0

0,0

5,6

5,6

Tổng cộng

38,9

34,6

61,1

65,4

100,0

100,0

Đánh giá  mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với tuổi tác qua 2 lần điều tra cho thấy  chất lượng cuộc sống có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi tác (p<0,05), tuổi càng cao chất lượng cuộc sống càng giảm, phù hợp với  nghiên cứu của Dương Huy Lương và Phạm Ngọc Châu về thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở huyện nông thôn miền Bắc Việt Nam Tuổi cao là yếu tố tác động đến nhiều khía cạnh của chất lượng cuộc sống như làm suy giảm một số chức năng của cơ thể, dẫn đến sức khoẻ yếu dần đi… hoặc ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm, giao tiếp của người cao tuổi [10].

2.3. Nơi cư trú

Bảng 5. Liên quan Chất lượng cuộc sống và nơi cư trú

Nơi cư trú

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1>0,05

p2<0,05

Vùng Đồng bằng

24,9

22,2

33,3

36,0

58,2

58,2

Vùng Ven biển

8,2

6,7

19,6

21,1

27,8

27,8

Vùng Núi

5,8

5,5

8,2

8,5

14,0

14,0

Tổng cộng

38,9

34,4

61,1

65,6

100,0

100,0

Chất lượng cuộc sống trong hai lần điều tra cho thấy không có sự liên quan với nơi cư trú bệnh nhân ở vùng nào thì có chất lượng cuộc sống nhất định của vùng đó.

2.4. Dân tộc

Bảng 6. Liên quan Chất lượng cuộc sống và dân tộc

Dân tộc

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1 >0,05

 

 

p2 >0,05

Kinh

35,4

31,6

58,2

62,0

93,6

93,6

Hoa

2,0

1,7

2,6

2,9

4,6

4,6

Rắc lây

0,9

0,6

0,0

0,3

0,9

0,9

Khác

0,6

0,6

0,3

0,3

0,9

0,9

Tổng cộng

38,9

34,5

61,1

65,5

100,0

100,0

Đánh giá mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các nhóm dân tộc cho thấy không có mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với dân tộc (p1 = 0,11 > 0,05 và p2 = 0,40 > 0,05).

Mỗi dân tộc có chất lượng cuộc sống riêng biệt của họ.

2.5. Trình độ học vấn

Bảng 7. Liên quan Chất lượng cuộc sống và trình độ học vấn

Trình độ

học vấn

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1 <0,05

 

 

p2 <0,05

 

Không biết chữ

1,7

1,7

2,0

2,0

3,7

3,7

Tiểu học

20,5

17,2

16,7

20

37,2

37,2

Trung học cơ sở

12,0

10,8

26,9

28,1

38,9

38,9

Phổ thông trung học

3,5

3,5

13,4

13,4

16,9

16,9

Cao đẳng

0,3

0,3

1,2

1,2

1,5

1,5

Đại học

0,9

0,9

0,9

0,9

1,8

1,8

Tổng cộng

38,9

34,4

61,1

65,6

100,0

100,0

Đánh giá mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống  với trình độ học vấn  chúng tôi thấy không có mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với trình độ học vấn mặc dù p < 0,05 nhưng vì có > 20% số ô có tầng suất mong đợi  dưới 5.

Trình độ học vấn không làm thay đổi chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng.

2.6. Nghề nghiệp

Bảng 8. Liên quan Chất lượng cuộc sống và nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(1) %

(2)%

(1) %

(2)%

(1) %

(2)%

p1<0,05

 

 

p2<0,05

 

 

Đi học

0,9

0,9

5,0

5,0

5,9

5,9

Cán bộ công chức

2,0

2,0

3,8

3,8

5,8

5,8

Buôn bán

5,0

4,1

6,4

7,3

11,4

11,4

Nông nghiệp

13,2

11,7

25,4

26,9

38,6

38,6

Ngư nghiệp

0,3

0,3

3,5

3,5

3,8

3,8

Công nhân, thủ công

0,9

0,9

8,2

8,2

9,1

9,1

Nội trợ

7,6

6,1

5,2

6,7

12,8

12,8

Khác

9,1

8,5

3,5

4,1

12,6

12,6

Tổng cộng

39,0

34,5

61,0

65,5

100,0

100,0

Đánh giá chất lượng cuộc sống chúng tôi nhận thấy mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với nghề nghiệp có ý nghĩa thống kê p<0,05.

Nghề nghiệp ổn định thì chất lượng cuộc sống càng cao.

2.7. Kinh tế gia đình

Bảng 9. Liên quan Chất lượng cuộc sống và kinh tế gia đình

Kinh tế gia đình

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1<0,05

 

 

p2<0,05

Không nghèo

31,9

28,3

55,5

59,1

87,4

87,4

Nghèo

7,0

6,2

5,6

6,4

12,6

12,6

Tổng cộng

38,9

34,5

61,1

65,5

100,0

100,0

Đánh gía mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với kinh tế gia đình chúng tôi nhận thấy mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với kinh tế gia đình có ý nghĩa thống kê p<0,05.

Kinh tế càng phát triển thì chất lượng cuộc sống càng cao.

2.8. Môi trường gia đình

Bảng 10. Liên quan chất lượng cuộc sống và môi trường gia đình

Môi trường gia đình

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1>0,05

 

 

p2>0,05

 

Sống với vợ/ chồng

29,5

26,0

43,0

46,5

72,5

72,5

Ly dị

1,5

1,2

0,9

1,2

2,4

2,4

Độc thân

7,8

7,3

17,3

17,8

25,1

25,1

Tổng cộng

38,8

34,5

61,2

65,5

100,0

100,0

Mặc dù chất lượng cuộc sống có cải thiện sau phẫu thuật qua hai lần điều tra nhưng p>0,05 nên không có mối liên quan giữ chất lượng cuộc sống với môi trường gia đình .

Môi trường gia đình không làm thay đổi chất lượng cuộc sống.

2.9. Phương pháp phẫu thuật

Bảng 11. Liên quan chất lượng cuộc sống và phương pháp phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1<0,05

 

 

p2<0,05

 

Phẫu thuật cắt 2/3 dạ dày

0,3

0,3

0,0

0,0

0,3

0,3

Phẫu thuật cắt nối ruột tận tận

0,3

0,3

0,0

0,0

0,3

0,3

Phẫu thuật

Cắt túi mật nội soi

3,5

2,9

1,5

2,1

5,0

5,0

Phẫu thuật  cắt ruột thừa

22,8

20,7

40,0

42,1

62,8

62,8

Phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi

6,1

5,5

14,0

14,6

20,1

20,1

Phẫu thuật khâu gan

0,9

0,9

0,0

0,0

0,9

0,9

Phẫu thuật lách

1,2

1,2

0,9

0,9

2,1

2,1

Phẫu thuật khâu lổ thủng

Dạ dày tá tràng

2,3

1,4

0,6

1,5

2,9

2,9

Phẫu thuật khâu lổ thủng dạ dày tá tràng nội soi

0,9

0,9

4,1

4,1

5,0

5,0

Phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi dẫn lưu Kerh

0,6

0,3

0,0

0,3

0,6

0,6

Tổng cộng

38,9

34,5

61,1

65,5

100,0

100,0

Đánh giá chất lượng cuộc sống giữa hai lần điều tra với phương pháp phẫu thuật, cho thấy chất lượng cuộc sống càng về sau càng cải thiện tốt hơn có ý nghĩa thống kê ở những bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa và phẫu thuật nội soi khâu lổ thủng dạ dày tá tràng. Ở những bệnh nhân cùng phẫu thuật một phương pháp thì chất lượng cuộc sống lần điều tra thứ 2 có cải thiện hơn lần điều tra thứ nhất nhưng không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên do số lượng những bệnh nhân được phẫu thuật về gan , mật , lách, cắt dạ dày, cắt nối ruột số lượng quá ít nên chưa có giá trị thực tiển cao

Phẫu thuật nội soi làm thay đổi chât lượng cuộc sống của bệnh nhân ngày càng tốt hơn.

Bảng 12. Liên quan Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1 và lần 2 ở bệnh nhân sau phẫu thuật viêm ruột thừa

Chất lượng cuộc sống

Tốt

Rất tốt

Điểm trung bình

 

p

n

%

n

%

<0,05

Lần 1

99

34,9

185

65,1

126,61 ± 13,70

Lần 2

90

31,7

194

68,3

127,11 ± 13,46

Kiểm định trị trung bình chất lượng cuộc sống qua hai lần điều tra ở bệnh nhân sau phẫu thuật cắt ruột thừa  cho thấy p = 0,004 < 0,05 như vậy có mối liên quan với nhau nghĩa là chất lượng cuộc sống lần sau cao hơn lần trước có ý nghĩa thống kê.

Bảng 13. Liên quan chất lượng cuộc sống điều tra lần 1 và lần 2 ở bệnh nhân sau phẫu thuật khâu lổ thủng dạ dày tá tràng

Chất lượng cuộc sống

Tốt

Rất tốt

Điểm  trung bình

 

p

n

%

n

%

<0,05

Lần 1

11

40,7

16

59,3

117,07 ± 11,85

Lần 2

5

18,5

22

81,5

119,63 ± 10,77

Kiểm định trị trung bình chất lượng cuộc sống qua hai lần điều tra ở bệnh nhân sau phẫu thuật khâu lổ thủng dạ dày tá tràng cho thấy p = 0,01 < 0,05 như vậy có mối liên quan với nhau nghĩa là chất lượng cuộc sống lần sau cao hơn lần trước có ý nghĩa thống kê.

Bảng 14. Liên quan Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1 và lần 2 ở bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật

Chất lượng cuộc sống

Tốt

Rất tốt

Điểm  trung bình

 

p

n

%

n

%

>0,05

Lần 1

12

70,6

5

29,4

106,18 ± 14,14

Lần 2

10

58,8

7

41,2

107,35 ± 14,64

Kiểm định trị trung bình chất lượng cuộc sống qua hai lần điều tra ở bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi cho thấy p = 0,16 > 0,05 như vậy không có mối liên quan với nhau nghĩa là chất lượng cuộc sống lần sau cao hơn lần trước không có ý nghĩa thống kê.

2.10. Biến chứng muộn sau phẫu thuật

Bảng 15. Liên quan chất lượng cuộc sống và biến chứng tắc ruột sau mổ

Tắc ruột sau mổ

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1>0,05

 

p2>0,05

 

Điều trị nội khoa

5,2

1,2

1,5

1,8

67,0

3,0

Phẫu thuật

1,8

0,0

0,9

0,0

27,0

0,0

Không có

31,9

33,3

58,7

63,7

90,7

97,0

Tổng cộng

38,9

34,5

61,1

65,5

100,0

100,0

Kiểm định khi bình phương trong lần điều tra thứ nhất cho thấy p1 <0,05, nhưng lần điều tra thứ hai thì p2 =0,71 > 0,05 như vậy biến chứng tắc ruột sau mổ không có liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Bảng 16. Liên quan chất lượng cuộc sống và biến chứng loét tái phát

Loét tái phát

Chất lượng cuộc sống điều tra lần 1,2

Tốt

Rất tốt

Tổng số

p

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

(I) %

(II)%

p1>0,05

 

p2>0,05

 

Điều trị nội khoa

17,9

3,6

21,4

7,1

39,3

10,7

Phẫu thuật

0,0

0,0

3,6

0,0

3,6

0,0

Không có

25,0

17,9

32,1

71,4

57,1

89,3

Tổng cộng

42,9

21,5

57,1

78,5

100,0

100,0

Chất lượng cuộc sống không có mối liên quan đến biến chứng loét tái phát.

 

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật vùng bụng của 342 bệnh nhân tại Bệnh Viện Đa Khoa Ninh Hoà trong thời gian từ năm 2005-2007 chúng tôi có những kết luận sau:

-Bảng câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống tiêu hoá gan mật có độ tin cậy cao được xác định bởi  hệ số Cronbach ‘ alpha = 0,91.Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng qua hai lần điều tra cách nhau 7 tháng cho thấy chất lượng cuộc sống về sau càng được cải thiện hơn (124,46 ± 14,39  và  125,06 ± 14,10), sự cải thiện về chất lượng cuộc sống  có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05).Phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được cải thiện tốt hơn là phẫu thuật cắt ruột thừa cổ điển.Phẫu thuật nội soi khâu lổ thủng dạ dày tá tràng cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tốt hơn là phẫu thuật khâu lổ thủng dạ dày tá tràng cổ điển.Ở nhóm phẫu thuật cắt túi mật nội soi bệnh nhân cùng được thực hiện một loại phẫu thuật thì chất lượng cuộc sống không có liên quan đến phẫu thuật đó.

-Tuổi ,nghề nghiệp, kinh tế gia đình làm thay đổi chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê.

-Phương pháp phẫu thuật nội soi có chất lượng cuộc sống tốt hơn những bệnh nhân được phẫu thuật cổ điển.

-Giới tính ,nơi cư trú, dân tộc, trình độ học vấn , môi trường gia đình không có mối liên quan với chất lượng cuộc sống.

-Các biến chứng hay gặp như tắc ruột sau mổ, loét tái phát không có mối liên quan với chất lượng cuộc sống.

KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân sau phẫu thuật vùng bụng tại Bệnh viện Đa Khoa Ninh hoà trong thời gian 2005-2007, cho thấy tuổi, nghề nghiệp, kinh tế, phương pháp phẫu thuật nội soi có liên đến sự cải thiện thiện chất lượng cuộc sống về sau.

Vì vậy , đứng về mặt quản lý, chúng tôi kiến nghị cần triển khai và áp dụng công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống vào các nghiên cứu sau phẫu thuật các bệnh lý liên quan đến đường tiêu hoá gan mật và xem như là một trong những kiểm nghiệm cuối cùng về chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Tôn Thất Bách, Trần Bình Giang (2005), “Phẫu thuật cắt túi mật”, Phẫu thuật gan mật, tr. 118.

2.Nguyễn Cao Cường ,Võ Văn Hùng, Văn Tần (2008), “Kết quả điều trị bằng phẫu thuật các tổn thương đường mật do phẫu thuật”, Tạp chí gan mật Việt Nam, Hội thảo khoa học Gan Mật toàn quốc lần thứ IV, tr. 88-95.

3.oàng HHHLê Tiến Dũng (2000), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và thái độ xử lý ngoại khoa của tắc ruột sau mổ ruột thừa”, Luận văn Thạc sỹ y học,Trường Đại học Y Dược Huế tr. 3-5.

4.Nguyễn Đoan (2008), “Đánh giá kết quả điều trị ung thư dạ dày có biến chứng bằng phẫu thuật cắt đoạn dạ dày, Luận án chuyên khoa cấp II ngoại tiêu hoá, Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ, tr. 88-93.

5.Nguyễn Đình Hối (1989), “Phẫu thuật cắt dạ dày”, Bệnh lý phẫu thuật dạ dày tá tràng, tr. 263-268.

6.Võ Tuấn Khoa (2007), “Nghiên cứu về bảng đánh giá chất lượng cuộc sống SHORT FORM (SF) – 36 và ứng dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đái tháo đường sau đoạn Khi tại Bệnh Viện Chợ Rẫy, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Dược TP.HCM

7.Lê Sỹ Liêm (1988), “Những tai biến và biến chứng muộn sau mổ cắt đoạn dạ dày, biến chứng muộn”, Tai biến biến chứng phẩu thuật, tr. 91-93.

8.Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thế Hiệp, Nguyễn Bá Nhuận (2002), “Kết quả điều trị vỡ lách trong chấn thương bụng ở người lớn”, Y Học TP.Hồ Chí Minh, 6 (3), tr. 149-154.

9.Nguyễn Văn Lượng (2007), “Nghiên cứu ứng dụng miệng nối ROUX-EN-Y cải tiến sau cắt đoạn dạ dày cực dưới để điều trị loét dạ dày tá tràng và ung thư dạ dày, Luận án Tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Huế.

10.Dương Huy Lương, Phạm Ngọc Châu (2010), “Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở huyện Nông thôn miền Bắc Việt Nam”, Y học thực hành, 712 (4), tr. 9-11.

11.Nguyễn Thanh Nhã, (2010), “Đánh giá kết quả điều trị tắc ruột do dính sau mổ tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ và Đa khoa Thành phố Cần Thơ”, Luận án chuyên khoa II. Trường Đại học Y Dược Huế.

12.Nguyễn Đức Ninh (1991), “Viêm tụy cấp”, Bệnh học ngoại, tr. 38.

13.Nguyễn Đức Ninh (2001), “Tai biến xa sau cắt bỏ lách”, Bệnh học ngoại sau đại học –Tuỵ và Lách, tr. 215-216.

14.Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), “Kiểm định trị trung bình của hai mẫu phụ thuộc hay mẫu phối hợp từng cặp. (Paired-samples T-test)”, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, tr.118-121.

15.A.J.Carr, P.W.Thompson and J.R.Kirwan (1996), Quality of life measures, British Journal of Rheumatology, 35, pp. 275-281.

16.E. Eypasch, J.I.William, S. Wood-Dauphinee, B. M. Ure, C. Schmulling, (1995), Gastrointestinal quality of life index: Development, validation and application of a new instrument, British Journal of Surgery, 82, pp. 216-222.

17.E.J.M Nieven van Djkum, C.B. Terwee (2000), Validation of the gastrointestinal quality of life index for patients with potentially operable periampullary carcinoma, British journal of surgery, 87, pp. 110-115.

18.Gabriel Sandblom,  Per Videhult,  Britt-Marie Karlson,  Staffan Wollert, Mikael Ljungdahl, Bahman Darkahi, Haakan Liljeholm, Ib Christian Rasmussen (2009), Validation of Gastrointestinal Quality of Life Index in Swedish for Assessing the Impact of Gallstones on Health-Related Quality of Life, Value in Health ,12, pp. 181-184.

19.Heng Hui Lien, Khi Chang Huan, Pa- Chung Wang, (2007), Validation Assessment of the Khinese (Taiwan) version of the Gastrointestinal quality of life index for patient with symptometic gallstone disease, Journal of laparoendoscopic and advanced surgical techniques , 17(4), pp. 430-433.

20.J. Camilleri-Brennan and R.J.C. Steele, (1999), Measurement of quality of life in surgery, J.R.Coll.Surg.Edinb, 44, pp. 252- 259.

21.John E. Ware,Jr (2000), SF-36 Health Survey Update, Spine 25(24),pp. 3130-3139.

22.John E. Ware, Jr., and Barbara Gandek (1998), Overview of the SF-36 Health survay and the In ter national quality of life assessment (IQOLA) project, J Clin Epidemiol ,15(11), pp. 903-912.

23.Le Page S, Caputo S, Kwiatkowski F(2008), Functional outcome and quality of life after pancreaticoduodenectomy, J Khir (Paris), 145, pp. 32-36.

24..M.Kaplan, B.Salman, T.Yilmaz, M.Oguz (2009), A Quality of Life Comparison of Laparoscopic and Open Approaches in Acute Appendicitis: A Randomised Prospective Study, Acta Khir Belg, pp. 356-363.

25..M. Planells Roig, J. Bueno Lledó, A. Sanahuja Santafé and R. García Espinosa, (2004), Quality of life (GIQLI) and laparoscopic cholecystectomy usefulness in patients with gallbladder dysfunction or chronic non-lithiasic biliary pain (chronic acalculous cholecystitis), Rev Esp Enferm Dig, 96 (7), pp. 442-451.

26..Mentes BB, Akin M, Irkörücü O, Tatlicioğlu E, Ferahköşe Z, Yildinm A, Maral I (2001), Gastrointestinal quality of life in patients with symptomatic or asymptomatic cholelithiasis before and after laparoscopic cholecystectomy, Surg Endosc, 15(11), pp.1267-72.

27.Vo Thi Xuan Hanh, Francis Guillemin, Duong Dinh Cong, George R.Parkerson Jr (2005),  Health related quality of life of adolescents in Viet Nam: cross-cultural adaptation and validation of the Adolescent Duke health Profile, Journal of Adolescence, 28, pp.127-146.

(NCKH)